TRA CỨU
Thư mục - Vốn tư liệu
Đặc trưng văn hóa của biệt ngữ trong tiếng Hán =

Đặc trưng văn hóa của biệt ngữ trong tiếng Hán = : 浅谈汉语隐语的文化特征

 tr.32-39
Tác giả CN Nguyễn, Thị Thúy Hạnh
Nhan đề Đặc trưng văn hóa của biệt ngữ trong tiếng Hán = 浅谈汉语隐语的文化特征 /Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Mô tả vật lý tr.32-39
Tóm tắt Biệt ngữ, theo ngôn ngữ dân gian còn được gọi là "tiếng lóng", là hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt, tổn tại một cách khách quan. Nếu nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ trong thực tế của nhân loại, có thể nói, trong bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng đều ít nhiều tồn tại biệt ngữ mang bản sắc văn hóa lịch sử đặc trưng của dân tộc; trong bất kỳ xã hội hay thời kỳ nào cũng đều ít nhiều có hiện tượng văn hóa kế thửa, sáng tạo và sử dụng biệt ngữ. Trong bài viết này, tác giả thông qua phương thức tư duy, hình thức tâm lý, quan niệm giá trị, thẩm mỹ, phong tục tập quán trong sinh hoạt của các nhóm tổ chức xã hội Trung Quốc... để giới thiệu đặc trưng văn hóa của biệt ngữ trong tiếng Hán. Vi dụ, ngư dân Trúng Quốc gọi ngư thuyền là "Mộc Long - Rồng gỗ", bởi trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, rồng là linh vật thần thánh được sùng bái và tôn kính, được coi là "thủy trung chi vương - vua của nước", vì vậy khi muốn đặt tên cho ngư thuyền, các ngư dân liên tưởng ngay đến Rồng, tương tự như vậy, đuôi thuyền được gọi là "đuôi rồng", hay gọi bờ đề sông là "lưng rồng"... Văn hóa sùng bái Totem được thể hiện qua hàng loạt biệt ngữ, như củ gừng được gọi là "vuốt hồ"; đậu cove - "mắt dê"; con đường nhỏ - "ruột dễ", trong tâm lý người Trung Quốc, hồ là con vật nguy hiểm và đầy uy lực, vì vậy trong ngành y gọi loại thuốc sau khi uống lại gây nguy hiểm đền tính mạng là "hổ dược", gọi thủ đoạn kê thuốc khiến người khác mắc bệnh rồi tiếp đó mới tìm cách chữa trị để lừa gạt tiền là "phóng hổ"... Chó là loài vật được nuôi để trông nhà, tuy thuần phục chủ nhân nhưng hung dữ với kẻ lạ, chó lại có bản tính hay cắn trộm, thời Minh Thanh mới gọi sai dịch trong quan phủ là "chó săn", ngày nay giới giang hồ vẫn gọi "bị bắn" là bị "chó cắn". Tương tự gọi người có tiền của là "con lợn béo"; kĩ nữ - "mèo"; trộm vặt - "chuột"; trộm trên sông nước - "chuột nước"... Những năm gần đây, hiện tượng hồi lộ và nhận hối lộ tương đối phổ biến, đặc biệt đối với người dân có hoàn cảnh khó khăn nhưng vì mưu sinh mà bất đắc dĩ phải "đi cửa sau", dân chúng sử dụng biệt ngữ để gọi những đồ hối lộ như một cách tự giải tỏa những bất mãn của mình, giống "iệu pháp thắng lợi tinh thần" của A Q, ví như gọi rượu cao cấp là "lựu đạn"; gói quà biểu - "bao thuốc súng",; tiền mặt - "đạn giấy"; gọi đi hối lộ là đi "bắn đạn"... Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa lớn, đặc sắc của Trung Quốc, biệt ngữ có liên quan đến văn hóa ẩm thực trong tiếng Hán vô cùng phong phú: "ăn ngói" chỉ người chuyên cho thuê phòng hoặc buôn bán nhà đất, "ăn cỏ" - phạm nhân bị xử bắn vào ban ngày; "uống thần dược" - chỉ thuốc mê dùng để lừa trẻ em; "ăn đạn ngọt" - hẹn nhưng không đến; "ăn màn thầu" - bị đánh; "ăn kem que" - bị sa thải...
Tóm tắt 浅谈汉语隐语的文化特征 引言隐语是一种客观存在的特殊语言现象。根据现有资料记载,人类语言中的主要大语种,都明显地存在着他们自己的隐语。如果从人类实际的语言交际着眼,可以这样说,任何民族语言中都或多或少地存在具本民族历史文化特色的隐语,任何社会、任何时代都或多或少地存在着传承、创造、使用隐语的文化现象。 所谓隐语,它必定属于语言范畴。而事实上,隐语本来就是一种由特定的人群、在特定的历史文化背景下创造的、在特定的语言环境中交际使用的语言。因此,它必须具备语言的基本属性。换言之,隐语是一种语言形式,它应当是具有一定系统和一定规律的语音结合体,它应当在特定的语言环境中具有交际工具的功能。同时,所谓隐语,它还必须具备“隐”的特征,即是说,凡称得上隐语者起码应当具备隐语的特质:“隐蔽性”和“秘密性”。下面笔者就从汉语的隐型文化(包括思维方式、心理模式、价值取向、审美标准等)及汉语隐语的显型文化(包括生产生活习俗、政治组织等)进行探讨研究。 一、汉语隐语的隐型文化特征 所谓隐型文化,是指一个民族深层次的精神文化。这种深层的文化结构,是人们在历史实践中长期积淀而成的,其内容包括思维方式、心理模式、价值取向、审美情趣、人伦观念等。他们的存在形式较深蕴隐蔽,一旦形成,很难改变。它是区别文化民族性的主要标志。 汉语隐语行话的隐型文化特征,是指以语用主体的思维方式、心理模式和价值取向等为主要内容的文化特征。汉语隐语行话的命名,即语用主体对客观事物的看法、体验与认同。汉语隐语行话所蕴涵的隐型文化特征,在其命名理据中表现得最为突出
Từ khóa tự do Ngôn ngữ dân gian
Từ khóa tự do Tiếng Trung Quốc
Từ khóa tự do Văn hóa
Từ khóa tự do Tiếng lóng
Từ khóa tự do Tiếng Hán
Nguồn trích Tạp chí Khoa học ngoại ngữ- Số 19/2009
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
TagGiá trị
00000000nab#a2200000u##4500
00172117
0022
004EC351BFB-750A-4623-9D2D-460F56D633A4
005202504251042
008250425s2009 vm chi
0091 0
039[ ] |y 20250425104235 |z maipt
100[0 ] |a Nguyễn, Thị Thúy Hạnh
245[1 0] |a Đặc trưng văn hóa của biệt ngữ trong tiếng Hán = |b 浅谈汉语隐语的文化特征 / |c Nguyễn Thị Thúy Hạnh
300[ ] |a tr.32-39
520[ ] |a Biệt ngữ, theo ngôn ngữ dân gian còn được gọi là "tiếng lóng", là hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt, tổn tại một cách khách quan. Nếu nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ trong thực tế của nhân loại, có thể nói, trong bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng đều ít nhiều tồn tại biệt ngữ mang bản sắc văn hóa lịch sử đặc trưng của dân tộc; trong bất kỳ xã hội hay thời kỳ nào cũng đều ít nhiều có hiện tượng văn hóa kế thửa, sáng tạo và sử dụng biệt ngữ. Trong bài viết này, tác giả thông qua phương thức tư duy, hình thức tâm lý, quan niệm giá trị, thẩm mỹ, phong tục tập quán trong sinh hoạt của các nhóm tổ chức xã hội Trung Quốc... để giới thiệu đặc trưng văn hóa của biệt ngữ trong tiếng Hán. Vi dụ, ngư dân Trúng Quốc gọi ngư thuyền là "Mộc Long - Rồng gỗ", bởi trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, rồng là linh vật thần thánh được sùng bái và tôn kính, được coi là "thủy trung chi vương - vua của nước", vì vậy khi muốn đặt tên cho ngư thuyền, các ngư dân liên tưởng ngay đến Rồng, tương tự như vậy, đuôi thuyền được gọi là "đuôi rồng", hay gọi bờ đề sông là "lưng rồng"... Văn hóa sùng bái Totem được thể hiện qua hàng loạt biệt ngữ, như củ gừng được gọi là "vuốt hồ"; đậu cove - "mắt dê"; con đường nhỏ - "ruột dễ", trong tâm lý người Trung Quốc, hồ là con vật nguy hiểm và đầy uy lực, vì vậy trong ngành y gọi loại thuốc sau khi uống lại gây nguy hiểm đền tính mạng là "hổ dược", gọi thủ đoạn kê thuốc khiến người khác mắc bệnh rồi tiếp đó mới tìm cách chữa trị để lừa gạt tiền là "phóng hổ"... Chó là loài vật được nuôi để trông nhà, tuy thuần phục chủ nhân nhưng hung dữ với kẻ lạ, chó lại có bản tính hay cắn trộm, thời Minh Thanh mới gọi sai dịch trong quan phủ là "chó săn", ngày nay giới giang hồ vẫn gọi "bị bắn" là bị "chó cắn". Tương tự gọi người có tiền của là "con lợn béo"; kĩ nữ - "mèo"; trộm vặt - "chuột"; trộm trên sông nước - "chuột nước"... Những năm gần đây, hiện tượng hồi lộ và nhận hối lộ tương đối phổ biến, đặc biệt đối với người dân có hoàn cảnh khó khăn nhưng vì mưu sinh mà bất đắc dĩ phải "đi cửa sau", dân chúng sử dụng biệt ngữ để gọi những đồ hối lộ như một cách tự giải tỏa những bất mãn của mình, giống "iệu pháp thắng lợi tinh thần" của A Q, ví như gọi rượu cao cấp là "lựu đạn"; gói quà biểu - "bao thuốc súng",; tiền mặt - "đạn giấy"; gọi đi hối lộ là đi "bắn đạn"... Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa lớn, đặc sắc của Trung Quốc, biệt ngữ có liên quan đến văn hóa ẩm thực trong tiếng Hán vô cùng phong phú: "ăn ngói" chỉ người chuyên cho thuê phòng hoặc buôn bán nhà đất, "ăn cỏ" - phạm nhân bị xử bắn vào ban ngày; "uống thần dược" - chỉ thuốc mê dùng để lừa trẻ em; "ăn đạn ngọt" - hẹn nhưng không đến; "ăn màn thầu" - bị đánh; "ăn kem que" - bị sa thải...
520[ ] |a 浅谈汉语隐语的文化特征 引言隐语是一种客观存在的特殊语言现象。根据现有资料记载,人类语言中的主要大语种,都明显地存在着他们自己的隐语。如果从人类实际的语言交际着眼,可以这样说,任何民族语言中都或多或少地存在具本民族历史文化特色的隐语,任何社会、任何时代都或多或少地存在着传承、创造、使用隐语的文化现象。 所谓隐语,它必定属于语言范畴。而事实上,隐语本来就是一种由特定的人群、在特定的历史文化背景下创造的、在特定的语言环境中交际使用的语言。因此,它必须具备语言的基本属性。换言之,隐语是一种语言形式,它应当是具有一定系统和一定规律的语音结合体,它应当在特定的语言环境中具有交际工具的功能。同时,所谓隐语,它还必须具备“隐”的特征,即是说,凡称得上隐语者起码应当具备隐语的特质:“隐蔽性”和“秘密性”。下面笔者就从汉语的隐型文化(包括思维方式、心理模式、价值取向、审美标准等)及汉语隐语的显型文化(包括生产生活习俗、政治组织等)进行探讨研究。 一、汉语隐语的隐型文化特征 所谓隐型文化,是指一个民族深层次的精神文化。这种深层的文化结构,是人们在历史实践中长期积淀而成的,其内容包括思维方式、心理模式、价值取向、审美情趣、人伦观念等。他们的存在形式较深蕴隐蔽,一旦形成,很难改变。它是区别文化民族性的主要标志。 汉语隐语行话的隐型文化特征,是指以语用主体的思维方式、心理模式和价值取向等为主要内容的文化特征。汉语隐语行话的命名,即语用主体对客观事物的看法、体验与认同。汉语隐语行话所蕴涵的隐型文化特征,在其命名理据中表现得最为突出
653[0 ] |a Ngôn ngữ dân gian
653[0 ] |a Tiếng Trung Quốc
653[0 ] |a Văn hóa
653[0 ] |a Tiếng lóng
653[0 ] |a Tiếng Hán
773[ ] |t Tạp chí Khoa học ngoại ngữ |g Số 19/2009
890[ ] |a 0 |b 0 |c 1 |d 0
Tài liệu số
1