TRA CỨU
Thư mục - Vốn tư liệu
Phân tích câu tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi" từ nhiêu góc độ =

Phân tích câu tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi" từ nhiêu góc độ = : “吃”类动词处所宾语句的多角度分析

 tr.20-25
Tác giả CN Trịnh, Thị Vĩnh Hạnh
Nhan đề Phân tích câu tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi" từ nhiêu góc độ = “吃”类动词处所宾语句的多角度分析 /Trịnh Thị Vĩnh Hạnh
Mô tả vật lý tr.20-25
Tóm tắt rong tiếng Hán hiện đại, kết cấu động tân luôn là đề tài được nhiều nhà nghiên cửu ngữ pháp quan tâm. Chúng ta thường gặp những cấu trúc như: "chi fàn", "chí miàntiáo", "chi mántou", "đú kèwén"..., trong đó các tân ngữ "fàn", "miàntiáo", "mántou", "kèwén" đều là các tân ngữ điển hình. Bài viết này chủ yếu bàn về các cấu trúc "chi shitáng", "chi guanzi", "dú dàxué" (dưới đây gọi chung là câu có tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi"), trong đó "shitáng", "guanzi", "dàxuế" đều là các tân ngữ không điển hình của động từ "chi". Bài viết này sẽ trả lời câu hỏi: Tại sao các động từ có tính cập vật cao như "chi", "dứ" lại lần lượt có thể kết hợp với các danh từ chỉ nơi chốn địa diểm như "shítáng", "dàxuế"? Trong quá trình phân tích cấu trúc động tân "chi shítáng" trên ba phương diện cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, cũng như sự ảnh hưởng chi phối giữa hai đổi tượng là động từ "chi" và tân ngữ "shítáng", người viết nhận thấy: 1. Về ý nghĩa, trong cấu trúc "chi shítáng", tính cập vật và tính chất hành động của động từ "chi" yếu dần. Động từ "chi" không biểu thị hành động cụ thể, thay vào đó là hành động trừu tượng. Cấu trúc "chi shítáng" không chỉ trả lời câu hỏi "Ăn ở đâu ?" mà còn là "Ăn như thế nào?" Tân ngữ "shítáng" không chỉ biểu thị nơi chốn "nhà ăn", mà còn khiến ta liên tưởng tới cơm canh và các món ăn ở nhà ăn. Như vậy, danh từ chỉ nơi chồn "shítáng" khi đứng ở vị trí của tân ngữ không đơn thuần biểu thị nơi chốn mà còn bao hàm ý nghĩa rộng hơn. Động từ có tính cập vật cao như "chi" và danh từ chỉ nơi chốn "shitáng" kết hợp được với nhau là do có mối liên hệ dựa trên sự hoàn chỉnh về khái niệm. 2. Về cú pháp, các trợ từ biểu thị thời thái như "le" "zhe" "guo" không xuất hiện sau động từ "chỉ". Trước tân ngữ "shítáng" không dùng từ chỉ số lượng. Câu có tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi" không thể chuyển hóa nghĩa thành "bei" và "ba". 3. "Ngắn gọn, kinh tế" đó là tính chất ngữ dụng của câu có tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi". Tác giả bài viết hi vọng sẽ tạo điều kiện cho người dạy và học tiếng Hán hiểu rõ hơn một số cơ sở lí luận của ngữ pháp tiếng Hán, từ đó hiểu rõ hơn tính phức tạp của tân ngữ chỉ nơi chốn, nắm vững cơ chế ảnh hưởng nội tại của động từ "chi" và tân ngữ chỉ nơi chốn để vận dụng chính xác và linh hoạt loại câu này.
Từ khóa tự do Động từ "chi"
Từ khóa tự do Tiếng Trung Quốc
Từ khóa tự do Ngữ pháp
Từ khóa tự do Động từ
Nguồn trích Tạp chí Khoa học ngoại ngữ- Số 18/2009
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
TagGiá trị
00000000nab#a2200000u##4500
00172121
0022
0047C1E5E45-248B-417A-BAE0-E616FA79342E
005202504251128
008250425s2009 vm chi
0091 0
039[ ] |y 20250425112801 |z maipt
100[0 ] |a Trịnh, Thị Vĩnh Hạnh
245[1 0] |a Phân tích câu tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi" từ nhiêu góc độ = |b “吃”类动词处所宾语句的多角度分析 / |c Trịnh Thị Vĩnh Hạnh
300[ ] |a tr.20-25
520[ ] |a rong tiếng Hán hiện đại, kết cấu động tân luôn là đề tài được nhiều nhà nghiên cửu ngữ pháp quan tâm. Chúng ta thường gặp những cấu trúc như: "chi fàn", "chí miàntiáo", "chi mántou", "đú kèwén"..., trong đó các tân ngữ "fàn", "miàntiáo", "mántou", "kèwén" đều là các tân ngữ điển hình. Bài viết này chủ yếu bàn về các cấu trúc "chi shitáng", "chi guanzi", "dú dàxué" (dưới đây gọi chung là câu có tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi"), trong đó "shitáng", "guanzi", "dàxuế" đều là các tân ngữ không điển hình của động từ "chi". Bài viết này sẽ trả lời câu hỏi: Tại sao các động từ có tính cập vật cao như "chi", "dứ" lại lần lượt có thể kết hợp với các danh từ chỉ nơi chốn địa diểm như "shítáng", "dàxuế"? Trong quá trình phân tích cấu trúc động tân "chi shítáng" trên ba phương diện cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, cũng như sự ảnh hưởng chi phối giữa hai đổi tượng là động từ "chi" và tân ngữ "shítáng", người viết nhận thấy: 1. Về ý nghĩa, trong cấu trúc "chi shítáng", tính cập vật và tính chất hành động của động từ "chi" yếu dần. Động từ "chi" không biểu thị hành động cụ thể, thay vào đó là hành động trừu tượng. Cấu trúc "chi shítáng" không chỉ trả lời câu hỏi "Ăn ở đâu ?" mà còn là "Ăn như thế nào?" Tân ngữ "shítáng" không chỉ biểu thị nơi chốn "nhà ăn", mà còn khiến ta liên tưởng tới cơm canh và các món ăn ở nhà ăn. Như vậy, danh từ chỉ nơi chồn "shítáng" khi đứng ở vị trí của tân ngữ không đơn thuần biểu thị nơi chốn mà còn bao hàm ý nghĩa rộng hơn. Động từ có tính cập vật cao như "chi" và danh từ chỉ nơi chốn "shitáng" kết hợp được với nhau là do có mối liên hệ dựa trên sự hoàn chỉnh về khái niệm. 2. Về cú pháp, các trợ từ biểu thị thời thái như "le" "zhe" "guo" không xuất hiện sau động từ "chỉ". Trước tân ngữ "shítáng" không dùng từ chỉ số lượng. Câu có tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi" không thể chuyển hóa nghĩa thành "bei" và "ba". 3. "Ngắn gọn, kinh tế" đó là tính chất ngữ dụng của câu có tân ngữ chỉ nơi chốn của động từ "chi". Tác giả bài viết hi vọng sẽ tạo điều kiện cho người dạy và học tiếng Hán hiểu rõ hơn một số cơ sở lí luận của ngữ pháp tiếng Hán, từ đó hiểu rõ hơn tính phức tạp của tân ngữ chỉ nơi chốn, nắm vững cơ chế ảnh hưởng nội tại của động từ "chi" và tân ngữ chỉ nơi chốn để vận dụng chính xác và linh hoạt loại câu này.
653[0 ] |a Động từ "chi"
653[0 ] |a Tiếng Trung Quốc
653[0 ] |a Ngữ pháp
653[0 ] |a Động từ
773[ ] |t Tạp chí Khoa học ngoại ngữ |g Số 18/2009
890[ ] |a 0 |b 0 |c 1 |d 0
Tài liệu số
1