THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
HANOI UNIVERSITY LIBRARY
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
HANOI UNIVERSITY LIBRARY
0
Đăng nhập
MENU
Giới thiệu
Đội ngũ cán bộ
Cơ cấu tổ chức
Định hướng phát triển
Tài nguyên và dịch vụ
Lịch sử
Góc thư viện
Ảnh thư viện
Videos thư viện
Nghiệp vụ thư viện
Dịch vụ
Mượn, trả tài liệu
Gia hạn tài liệu
Đặt mượn tài liệu
Đọc tại chỗ
Tư vấn, hỗ trợ thông tin
Cung cấp thông tin theo yêu cầu
Đào tạo người dùng tin
Phòng học nhóm
Tra cứu
Tìm lướt
Tra cứu nâng cao
Tìm chuyên gia
Tra cứu toàn văn
Tài liệu theo học phần
Tạp chí
Hỗ trợ
Gửi yêu cầu - Góp ý
HƯỚNG DẪN TRA CỨU TÀI LIỆU
Hướng dẫn - trợ giúp
Hướng dẫn tra cứu tạp chí điện tử
Hỏi đáp nhanh
Tải về
Diễn đàn
Thông tin tài khoản
0
Đăng nhập
TRA CỨU
Tìm lướt
Tra cứu nâng cao
Tìm chuyên gia
Tra cứu toàn văn
Tài liệu theo học phần
Các bộ sưu tập
Skip Navigation Links.
Tất cả (60988)
Sách (43423)
Bài trích (6102)
Đề tài nghiên cứu (926)
Khoá luận (3243)
Luận văn (1604)
Báo - Tạp chí (427)
Luận án (88)
Kỷ yếu (579)
Bài viết khoa học (17)
Tạp chí (6)
Tài liệu môn học (4573)
Thư mục - Vốn tư liệu
Tất cả
Bài trích
Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt
Nguyễn, Thị Hiền
tr. 3 - 21
Câu chủ ngữ thụ động
Chuyển tác
So sánh Hán-Việt
Semantics
Tiếng Việt
Ngữ nghĩa tri nhận
Mô tả
Marc
Đọc tài liệu(1)
Tác giả CN
Nguyễn, Thị Hiền
Nhan đề
Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt / Nguyễn Thị Hiền
Mô tả vật lý
tr. 3 - 21
Tóm tắt
Câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại là một loại câu đặc biệt và rất khó đối với học sinh người Việt. Dựa vào lý thuyết về lực động lực của Talmy, lý thuyết tình thái của Peng Lizhen và lý thuyết về chuyển tác của Halliday, nghiên cứu này phân tích so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại và kiểu câu tương ứng trong tiếng Việt. Kết quả cho thấy cả hai kiểu câu đều miêu tả trạng thái của chủ ngữ, mang theo ý kiến chủ quan của người nói, biểu thị tình thái nhận thức, động lực và đạo nghĩa. Chủ ngữ thường là thực thể vô sinh, có tính chỉ định sẵn, và phổ quát, nhưng cũng tồn tại trường hợp chủ ngữ là hữu sinh và phi tác thể. Vị ngữ của loại câu này trong tiếng Hán có thể là động từ biểu thị hành động hay tâm lý, thường có thêm phần miêu tả. Vị ngữ của câu tương ứng trong tiếng Việt chủ yếu là động từ hành động, có thể là một mình động từ hoặc thêm phần miêu tả và thể hiện ý kiến chủ quan, thậm chí cả người thực hiện hành động. Ngoài ra, câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán có tính cập vật mạnh có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau trong tiếng Việt.
Tóm tắt
The unique syntactic structure of patient-subject sentences in Modern Chinese presents a significant challenge for Vietnamese learners. This study, grounded in the theoretical frameworks of Talmy's Force Dynamics, Peng Lizhen's modality theory, and Halliday's transitivity theory, employs a parallel corpus to conduct a comparative analysis of the constructional semantics of patient-subject sentences in Chinese and their Vietnamese counterparts - "de-transitive constructions." The findings reveal both structures primarily describe the subject's state while incorporating the speaker's subjective evaluation, encompassing epistemic, dynamic, and deontic modalities. The subjects in both structures are predominantly inanimate, definite, and generic entities, although animate, non-agent subjects also occur. In Chinese patient-subjed sentences, the predicate can be either an action or a mental verb, often accompanied by a descriptive component. In contrast, the predicate in the corresponding Vietnamese structure is mainly an action verb, which may be bare, allowing for adding descriptive and subjective evaluation components and even including an agent.
Từ khóa tự do
Câu chủ ngữ thụ động
Từ khóa tự do
Chuyển tác
Từ khóa tự do
So sánh Hán-Việt
Từ khóa tự do
Semantics
Từ khóa tự do
Tiếng Việt
Từ khóa tự do
Ngữ nghĩa tri nhận
Nguồn trích
Tạp chí Khoa học ngoại ngữ- Năm: Số 80/2025
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
Tag
Giá trị
000
00000nab#a2200000u##4500
001
73211
002
2
004
C52810DE-AB65-4B60-A948-1B9BC3F8828E
005
202510011630
008
251001s2025 vm chi
009
1 0
039
[ ]
|y
20251001162927
|z
maipt
100
[0 ]
|a
Nguyễn, Thị Hiền
245
[1 0]
|a
Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt /
|c
Nguyễn Thị Hiền
300
[ ]
|a
tr. 3 - 21
520
[ ]
|a
Câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại là một loại câu đặc biệt và rất khó đối với học sinh người Việt. Dựa vào lý thuyết về lực động lực của Talmy, lý thuyết tình thái của Peng Lizhen và lý thuyết về chuyển tác của Halliday, nghiên cứu này phân tích so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại và kiểu câu tương ứng trong tiếng Việt. Kết quả cho thấy cả hai kiểu câu đều miêu tả trạng thái của chủ ngữ, mang theo ý kiến chủ quan của người nói, biểu thị tình thái nhận thức, động lực và đạo nghĩa. Chủ ngữ thường là thực thể vô sinh, có tính chỉ định sẵn, và phổ quát, nhưng cũng tồn tại trường hợp chủ ngữ là hữu sinh và phi tác thể. Vị ngữ của loại câu này trong tiếng Hán có thể là động từ biểu thị hành động hay tâm lý, thường có thêm phần miêu tả. Vị ngữ của câu tương ứng trong tiếng Việt chủ yếu là động từ hành động, có thể là một mình động từ hoặc thêm phần miêu tả và thể hiện ý kiến chủ quan, thậm chí cả người thực hiện hành động. Ngoài ra, câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán có tính cập vật mạnh có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau trong tiếng Việt.
520
[ ]
|a
The unique syntactic structure of patient-subject sentences in Modern Chinese presents a significant challenge for Vietnamese learners. This study, grounded in the theoretical frameworks of Talmy's Force Dynamics, Peng Lizhen's modality theory, and Halliday's transitivity theory, employs a parallel corpus to conduct a comparative analysis of the constructional semantics of patient-subject sentences in Chinese and their Vietnamese counterparts - "de-transitive constructions." The findings reveal both structures primarily describe the subject's state while incorporating the speaker's subjective evaluation, encompassing epistemic, dynamic, and deontic modalities. The subjects in both structures are predominantly inanimate, definite, and generic entities, although animate, non-agent subjects also occur. In Chinese patient-subjed sentences, the predicate can be either an action or a mental verb, often accompanied by a descriptive component. In contrast, the predicate in the corresponding Vietnamese structure is mainly an action verb, which may be bare, allowing for adding descriptive and subjective evaluation components and even including an agent.
653
[0 ]
|a
Câu chủ ngữ thụ động
653
[0 ]
|a
Chuyển tác
653
[0 ]
|a
So sánh Hán-Việt
653
[0 ]
|a
Semantics
653
[0 ]
|a
Tiếng Việt
653
[0 ]
|a
Ngữ nghĩa tri nhận
773
[ ]
|t
Tạp chí Khoa học ngoại ngữ
|d
Số 80/2025
890
[ ]
|a
0
|b
0
|c
1
|d
1
Tài liệu số
1
Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ = Journal of foreign language studies, Số 80/2025
›