TRA CỨU
Thư mục - Vốn tư liệu
Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt

Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt

 tr. 3 - 21
Tác giả CN Nguyễn, Thị Hiền
Nhan đề Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt / Nguyễn Thị Hiền
Mô tả vật lý tr. 3 - 21
Tóm tắt Câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại là một loại câu đặc biệt và rất khó đối với học sinh người Việt. Dựa vào lý thuyết về lực động lực của Talmy, lý thuyết tình thái của Peng Lizhen và lý thuyết về chuyển tác của Halliday, nghiên cứu này phân tích so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại và kiểu câu tương ứng trong tiếng Việt. Kết quả cho thấy cả hai kiểu câu đều miêu tả trạng thái của chủ ngữ, mang theo ý kiến chủ quan của người nói, biểu thị tình thái nhận thức, động lực và đạo nghĩa. Chủ ngữ thường là thực thể vô sinh, có tính chỉ định sẵn, và phổ quát, nhưng cũng tồn tại trường hợp chủ ngữ là hữu sinh và phi tác thể. Vị ngữ của loại câu này trong tiếng Hán có thể là động từ biểu thị hành động hay tâm lý, thường có thêm phần miêu tả. Vị ngữ của câu tương ứng trong tiếng Việt chủ yếu là động từ hành động, có thể là một mình động từ hoặc thêm phần miêu tả và thể hiện ý kiến chủ quan, thậm chí cả người thực hiện hành động. Ngoài ra, câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán có tính cập vật mạnh có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau trong tiếng Việt.
Tóm tắt The unique syntactic structure of patient-subject sentences in Modern Chinese presents a significant challenge for Vietnamese learners. This study, grounded in the theoretical frameworks of Talmy's Force Dynamics, Peng Lizhen's modality theory, and Halliday's transitivity theory, employs a parallel corpus to conduct a comparative analysis of the constructional semantics of patient-subject sentences in Chinese and their Vietnamese counterparts - "de-transitive constructions." The findings reveal both structures primarily describe the subject's state while incorporating the speaker's subjective evaluation, encompassing epistemic, dynamic, and deontic modalities. The subjects in both structures are predominantly inanimate, definite, and generic entities, although animate, non-agent subjects also occur. In Chinese patient-subjed sentences, the predicate can be either an action or a mental verb, often accompanied by a descriptive component. In contrast, the predicate in the corresponding Vietnamese structure is mainly an action verb, which may be bare, allowing for adding descriptive and subjective evaluation components and even including an agent.
Từ khóa tự do Câu chủ ngữ thụ động
Từ khóa tự do Chuyển tác
Từ khóa tự do So sánh Hán-Việt
Từ khóa tự do Semantics
Từ khóa tự do Tiếng Việt
Từ khóa tự do Ngữ nghĩa tri nhận
Nguồn trích Tạp chí Khoa học ngoại ngữ- Năm: Số 80/2025
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
TagGiá trị
00000000nab#a2200000u##4500
00173211
0022
004C52810DE-AB65-4B60-A948-1B9BC3F8828E
005202510011630
008251001s2025 vm chi
0091 0
039[ ] |y 20251001162927 |z maipt
100[0 ] |a Nguyễn, Thị Hiền
245[1 0] |a Nghiên cứu so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán và cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt / |c Nguyễn Thị Hiền
300[ ] |a tr. 3 - 21
520[ ] |a Câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại là một loại câu đặc biệt và rất khó đối với học sinh người Việt. Dựa vào lý thuyết về lực động lực của Talmy, lý thuyết tình thái của Peng Lizhen và lý thuyết về chuyển tác của Halliday, nghiên cứu này phân tích so sánh câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán hiện đại và kiểu câu tương ứng trong tiếng Việt. Kết quả cho thấy cả hai kiểu câu đều miêu tả trạng thái của chủ ngữ, mang theo ý kiến chủ quan của người nói, biểu thị tình thái nhận thức, động lực và đạo nghĩa. Chủ ngữ thường là thực thể vô sinh, có tính chỉ định sẵn, và phổ quát, nhưng cũng tồn tại trường hợp chủ ngữ là hữu sinh và phi tác thể. Vị ngữ của loại câu này trong tiếng Hán có thể là động từ biểu thị hành động hay tâm lý, thường có thêm phần miêu tả. Vị ngữ của câu tương ứng trong tiếng Việt chủ yếu là động từ hành động, có thể là một mình động từ hoặc thêm phần miêu tả và thể hiện ý kiến chủ quan, thậm chí cả người thực hiện hành động. Ngoài ra, câu chủ ngữ thụ động trong tiếng Hán có tính cập vật mạnh có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau trong tiếng Việt.
520[ ] |a The unique syntactic structure of patient-subject sentences in Modern Chinese presents a significant challenge for Vietnamese learners. This study, grounded in the theoretical frameworks of Talmy's Force Dynamics, Peng Lizhen's modality theory, and Halliday's transitivity theory, employs a parallel corpus to conduct a comparative analysis of the constructional semantics of patient-subject sentences in Chinese and their Vietnamese counterparts - "de-transitive constructions." The findings reveal both structures primarily describe the subject's state while incorporating the speaker's subjective evaluation, encompassing epistemic, dynamic, and deontic modalities. The subjects in both structures are predominantly inanimate, definite, and generic entities, although animate, non-agent subjects also occur. In Chinese patient-subjed sentences, the predicate can be either an action or a mental verb, often accompanied by a descriptive component. In contrast, the predicate in the corresponding Vietnamese structure is mainly an action verb, which may be bare, allowing for adding descriptive and subjective evaluation components and even including an agent.
653[0 ] |a Câu chủ ngữ thụ động
653[0 ] |a Chuyển tác
653[0 ] |a So sánh Hán-Việt
653[0 ] |a Semantics
653[0 ] |a Tiếng Việt
653[0 ] |a Ngữ nghĩa tri nhận
773[ ] |t Tạp chí Khoa học ngoại ngữ |d Số 80/2025
890[ ] |a 0 |b 0 |c 1 |d 1
Tài liệu số
1